Từ vụ nhân viên Aeon Mall Long Biên ch:ặn khách vì nghi ă::n cắ::p đồ: Có được quyền tự ý khám xét, cư:ỡ:ng ch::ế khách không?
Từ vụ nữ khách hàng tố bị nhân viên an ninh Aeon Mall Long Biên chặn lại vì nghi trộm đồ, nhiều người đặt câu hỏi: Lực lượng bảo vệ siêu thị có được tự ý khám xét túi xách, giữ người hoặc ép khách hàng vào phòng riêng để làm việc hay không?.
Nhân viên an ninh siêu thị có được tự ý khám xét đồ của khách hàng?
Theo luật sư, lực lượng bảo vệ, an ninh tại siêu thị hoặc trung tâm thương mại không được tự ý giữ người, ép khách hàng vào phòng làm việc hay lục soát tư trang nếu chỉ dựa trên nghi ngờ có hành vi trộm cắp.
Thời gian gần đây, mạng xã hội xôn xao trước bài đăng của một nữ khách hàng cho rằng mình bị hai người tự nhận là nhân viên an ninh tại Aeon Mall Long Biên chặn lại thô bạo, yêu cầu lên ô tô vì nghi lấy cắp tài sản.



Vụ việc nhanh chóng thu hút sự chú ý của dư luận. Nhiều người đặt vấn đề: Trong trường hợp nghi khách hàng trộm đồ, nhân viên an ninh trung tâm thương mại có quyền giữ người, kiểm tra túi xách, tư trang, áp giải hoặc yêu cầu khách hàng vào phòng riêng để làm việc hay không?
Nếu quá trình kiểm tra, xác minh diễn ra không đúng quy định, khách hàng có thể được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ra sao?
Không được tự ý lục soát đồ đạc của người khác chỉ vì nghi ngờ
Trao đổi với phóng viên Dân trí, luật sư Trịnh Văn Dũng, Đoàn Luật sư TP Hà Nội, cho biết việc tự ý kiểm tra người, mở túi xách hoặc lục soát tư trang của người khác chỉ dựa trên nghi vấn trộm cắp là hành vi không đúng quy định pháp luật.
Theo luật sư, nếu không được thực hiện bởi người có thẩm quyền, đúng căn cứ và đúng trình tự, hành vi này có thể xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm của công dân.
Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định, việc khám xét người chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng người đó đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, tài sản do phạm tội mà có hoặc tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án.
Ngoài ra, Điều 194 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nêu rõ, người thi hành lệnh khám xét phải công bố lệnh, giải thích cho người bị khám xét biết. Việc khám xét người phải do người cùng giới tiến hành và có người cùng giới chứng kiến.
Quá trình khám xét cũng không được làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của người bị khám xét.
Trong một số tình huống đặc biệt do pháp luật quy định, chẳng hạn khi bắt người phạm tội hoặc có căn cứ xác định người đó đang cất giấu vũ khí, hung khí, chứng cứ, đồ vật liên quan đến vụ án, cơ quan có thẩm quyền mới được khám xét người mà không cần lệnh.
Luật sư Dũng phân tích, quyền khám xét người không thuộc về cá nhân, tổ chức hay lực lượng bảo vệ, an ninh thông thường. Đây là biện pháp tố tụng, chỉ được thực hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền và phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện, trình tự pháp luật đặt ra.
Vì vậy, việc nhân viên bảo vệ hoặc cá nhân tự yêu cầu kiểm tra người, lục túi xách, tư trang của khách hàng chỉ vì nghi ngờ trộm cắp là trái quy định. Nếu người bị kiểm tra không đồng ý và vụ việc không thuộc trường hợp pháp luật cho phép, hành vi này có thể bị xem là xâm phạm quyền nhân thân.
Nhân viên an ninh có được giữ khách, ép về phòng làm việc?
Theo luật sư Dũng, pháp luật hiện không trao cho nhân viên bảo vệ, an ninh tại trung tâm thương mại quyền bắt giữ người trong các trường hợp thông thường.
Khi mới dừng lại ở mức nghi ngờ, chưa có căn cứ xác định khách hàng thực hiện hành vi phạm tội, nhân viên an ninh không được dùng vũ lực, đe dọa, cưỡng ép hoặc bằng cách khác buộc khách hàng phải đi theo mình vào phòng làm việc để kiểm tra, xác minh.
Trường hợp phát hiện một người đang thực hiện hành vi trộm cắp và thuộc trường hợp phạm tội quả tang theo Bộ luật Tố tụng hình sự, bất kỳ công dân nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang. Tuy nhiên, người bị bắt phải được nhanh chóng đưa đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất để xử lý theo thẩm quyền.
Luật sư nhấn mạnh, quyền bắt người phạm tội quả tang không đồng nghĩa với việc được tự ý thẩm vấn, khám xét, lấy lời khai, giam giữ hoặc giữ người trong thời gian dài tại phòng làm việc của doanh nghiệp.
Do đó, nếu nhân viên an ninh chỉ dựa vào nghi vấn mà chặn khách hàng, ngăn không cho rời đi, lôi kéo, cưỡng ép vào phòng riêng hoặc giữ người trái ý muốn, hành vi này có dấu hiệu xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân. Tùy tính chất, mức độ, người vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Trường hợp người bị giữ trái pháp luật bị ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc phát sinh thiệt hại về vật chất, tinh thần, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm và tổ chức quản lý liên quan còn có thể phải bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.
Theo luật sư Dũng, nhân viên an ninh không được tự ý giữ người hoặc ép khách hàng vào phòng làm việc chỉ vì nghi ngờ trộm cắp. Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, cách xử lý phù hợp là báo ngay cho cơ quan công an hoặc phối hợp với cơ quan chức năng để giải quyết theo đúng trình tự, thay vì tự áp dụng các biện pháp hạn chế quyền tự do của người khác.
Tự ý khám xét, giữ người có thể bị xử lý ra sao?
Luật sư cho biết, hành vi tự ý khám xét người, lục soát túi xách, tư trang khi không có thẩm quyền không chỉ xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể mà trong một số trường hợp còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự, nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người bị kiểm tra.
Căn cứ Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị xem xét xử lý về tội làm nhục người khác.
Theo quy định, người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Nếu có các tình tiết tăng nặng như phạm tội với nhiều người, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc sử dụng mạng xã hội, phương tiện điện tử để xúc phạm người khác, mức phạt tù có thể từ 3 tháng đến 2 năm.
Trong trường hợp hành vi gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hình phạt có thể cao hơn theo quy định pháp luật.
Luật sư Dũng cho rằng, nếu cá nhân hoặc nhân viên an ninh tự ý lục soát người khác, đồng thời có hành vi ép buộc, bêu xấu, công khai cáo buộc trộm cắp trước đám đông hoặc thực hiện hành vi khác làm tổn hại nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người bị nghi ngờ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét dấu hiệu của tội làm nhục người khác nếu đủ căn cứ.
Dù vậy, việc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả thực tế và kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền trong từng trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, nếu nhân viên an ninh có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật, họ còn có thể bị xem xét về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Trường hợp có hành vi bịa đặt hoặc lan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, người vi phạm cũng có thể bị xem xét về tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.
